Đề tài: Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

Tháng Hai 11, 2019 7:36 chiều

A. PhẦN MỞ ĐẦU                                                                                                                                                                                           1.Lý do chọn đề tài

Giảng dạy là một quá trình mang tính chất nghệ thuật tạo sự kích thích,hứng thú, định hướng và hướng dẫn. Dạy không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức mà là một quá trình tạo mối tương quan giữa người dạy, người học lấy người học làm trung tâm và tư liệu giảng dạy. Thông thường con người chỉ nhớ: 10% những gì họ đọc, 20% những gì họ nghe, 80% những gì họ nói và đến 90% những gì họ nói và làm, tức là khi họ tự khám phá cho chính họ. Đặc biệt với cấp học Tiểu học các em luôn luôn hiếu động và hay tìm tòi những cái mới cái hay . Vì vậy chúng ta phải làm sao cho học sinh vẫn nắm bắt được những kiến thức về môn học là điều quan trọng đối với học sinh. Trò chơi học tập chính là một trong những chiếc cầu nối hữu hiệu thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học trong việc tự giải quyết nhiệm vụ học tập chung đạt được mục đích đề ra làm thoả mãn nhu cầu của cá nhân trong quá trình học tập. Áp dụng hình thức dạy học trò chơi học tập là một phương pháp đổi mới đáp ứng yêu cầu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cức tự giác của người học.

Việc vận dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học cho  là rất cần thiết, làm sao cho mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Trò chơi xuất phát từ nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thú, ham thích học tập tạo không khí phấn khởi tạo tâm thế thoải mái trước giờ học hay củng cố nắm chắc kiến thức đã được học, kích thích tư duy sáng tạo và rèn kĩ năng. Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, giáo dục học sinh phát triển toàn diện cả đức, trí, thể, mĩ. Các hoạt động dạy – học ở trường Tiểu học đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: Lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh. Đối với học sinh tiểu học, lứa tuổi vừa học vừa chơi, hiếu động, chóng chán, vấn đề tạo nên hứng thú học tập cho các em là rất quan trọng. Trò chơi tác động toàn diện đến trẻ em vì nó dễ dàng thâm nhập vào xúc cảm, tình cảm thúc đẩy mọi hành động của trẻ.

Hiện nay, vận dụng trò chơi học tập vào dạy học không phải là vấn đề mới mẻ. Các công trình nghiên cứu về môn Tiếng việt, các nguồn tư liệu: các sách thiết kế, sách giáo viên hướng dẫn soạn giáo án… đã đưa ra rất nhiều trò chơi nhưng còn rời rạc từng trò chơi cho từng bài học mà chưa có tính hệ thống. Một số trò chơi đòi hỏi cao về công tác chuẩn bị không phù hợp với đặc điểm cơ sở vật chất trường học…

Sách giáo viên hay sách thiết kế chỉ đưa ra trò chơi chưa có tính phong phú chỉ có hai trò chơi. Giáo viên rất khó áp dụng, đối với học sinh rất dễ gây nhàm chán, làm giảm hiệu quả các tiết học.

Từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập ” hi vọng khi nghiên cứu đề tài này sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm dạy học khi áp dụng phương pháp sử dụng trò chơi, bổ sung, phát triển vốn trò chơi thêm phong phú và đa dạng.

  1. 2. Lịch sử nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về hứng thú học tập môn Tiếng Việt xuất hiện sớm nhưng việc nghiên cứu về bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt chưa được các nhà khoa học và các nhà giáo quan tâm. Hiện tại chỉ những tài liệu gián tiếp bàn về hứng thú học tập Tiếng Việt chủ yếu khơi gợi, tìm tòi các biện pháp dạy học Tiếng Việt sao cho hay, cho vui. Đó là những cuốn sách tham khảo như: “Những bài tập Tiếng Việt lí thú” (Trương Đức Thành), “Chuyện vui chữ nghĩa” (Nguyễn Văn Tứ), “Tiếng Việt lí thú” (Trịnh Mạnh), “Vui học Tiếng Việt” (Trần Mạnh Hưởng), “Trò chơi học tập Tiếng Việt ở Tiểu học” ( Trần Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Hạnh). Các quyển sách trên đều dẫn người đọc đi đến một kết luận: Nếu biết sử dụng nguồn tư liệu và bài tập phù hợp kết hợp với phương pháp tổ chức học tập nhạy bén hợp với ngữ cảnh…thì người thầy sẽ có được một buổi lên lớp với môn Tiếng Việt thành công, học sinh sẽ có được một buổi học Tiếng Việt đầy hứng thú. Tiếp theo là những tài liệu đi sâu hơn vào vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập Tiếng Việt. Đó là những giáo trình hoặc những chuyên đề được đăng trên các tạp chí khoa học giáo dục như: “Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt” (Lê Xuân Thại),

“Để có những thành công của học sinh trong giờ học Tiếng Việt những ngày đầu tiên đến trường” (Lê Phương Nga). Các giáo trình và tài liệu trên đã đề cập đến biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học nhưng chưa hoàn chỉnh và nhất là chưa khái quát hóa các biện pháp tạo hứng thú thành lí luận để đội ngũ giáo viên ứng dụng vào giờ dạy Tiếng Việt.

Việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt là một việc làm có ý nghĩa quan trọng.Vì vậy vấn đề này cần được quan tâm đúng mức.Do đó tôi tập trung nghiên cứu việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập với mong muốn nâng cao hơn nữa hứng thú học tập Tiếng Việt của các em nói riêng và nâng cao kết quả học tập Tiếng Việt nói chung.

  1. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

      Khi nghiên cứu đề tài mục tiêu tôi đặt ra là kết quả đạt được góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống trò chơi phục vụ các môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học, nâng cao hiệu quả thông qua những các bài dạy.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là hết sức quan trọng. Thông qua các nhiệm vụ  tôi sẽ tiến hành từng bước như thế nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu. Các nhiệm vụ đó là: Đầu tiên tôi nghiên cứu cơ sở lý luận nắm bắt những nền tảng cơ sở ban đầu của vấn đề. Lí thuyết là một vấn đề và thực tiễn là vấn đề khác  tôi đi vào nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học các bài thuộc môn Tiếng việt . Nhiệm vụ cuối cùng là xây dựng một số trò chơi mới kết hợp các sưu tầm được tạo nên tính hệ thống phục vụ các bài ở môn Tiếng việt.

  1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: “ Bồi dưỡng hứng thú học tậpmôn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập”.

5.Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập.

 

  1. Phương pháp nghiên cứu

Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp thu thập tài liệu:

Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng internet tôi tiến hành thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.

    + Phương pháp quan sát sư phạm:

Chúng tôi quan sát lớp học trong mỗi tiết dạy của giáo viên đứng lớp.

   + Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Soạn các giáo án ứng dụng tổ chức trò chơi trong giờ dạy một số bài thuộc môn Tiếng Việt.

  + Phương pháp phân tích tổng hợp:

Sau khi thu thập các thông tin cũng như số liệu liên quan tôi tiến hành thống kê và xử lí các số liệu liên quan.

Tôi sử dụng phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp.

7.Đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần làm phong phú và đa dạng hệ thống trò chơi học tập phục vụ dạy học Tiếng việt cho học sinh Tiểu học,kích thích hứng thú học tập của các em từ đó góp phần nâng cao kết quả học tậpmôn Tiếng việt nói riêng và các môn học khác nói chung.

8.Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu,phần Kết luận và Tài liệu tham khảo đề tài gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ  sở lí luận và thực tiễn  của việc bồi dưỡng  hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập.

Chương 2: Xây dựng hệ thống trò chơi học tập nhằm bồi dưỡng hứng thú học tập  môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học và một số giáo án thực nghiệm.

B .  PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập

1.Cơ sở tâm lí học

Tâm lý học định nghĩa rằng học sinh Tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Các em là những thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khả năng phát triển. Khi bước vào bậc tiểu học thì các em thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học là hoạt động chủ đạo. Điều này có vai trò và ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển tâm lý của học sinh tiểu học. Đối với các em, tất cả còn ở phía trước, các em sống luôn hướng tới tương lai chứ chưa bị níu kéo bởi quá khứ. Do đó người ta gọi học sinh tiểu học là phạm trù tương lai.

1.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học

1.1.1. Chú ý của học sinh tiểu học

  1. Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của học sinh giúp các em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách tốt nhất.

Ở học sinh tiểu học có hai loại chú ý: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định.

  1. Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học:

Cả hai loại chú ý đều được hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học, chú ý không chủ định đã có trước 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn dễ dàng gây chú ý không chủ định của học sinh. Do có sự chuyển hoá giữa hai loại chú ý này nên khi học sinh chú ý không chủ định, giáo viên đưa ra câu hỏi để hướng học sinh vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định chuyển hoá thành chú ý có chủ định. Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh. Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu  cầu  hoạt  động  học,  ở  giai  đoạn  đầu  cấp  chú  ý  có  chủ  định  được  hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững. Vì vậy để duy trì nó nội dung mỗi tiết học phải trở thành đối tượng hoạt động của học sinh. Ở cuối cấp chú ý có chủ định bắt đầu ổn định và bền vững.

Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh Tiểu học. Ở giai đoạn đầu cấp khối lượng chú ý của học sinh còn hạn chế, học sinh chưa biết tập trung chú ý của mình vào nội dung bài học chưa có khả năng phân phối chú ý giữa các hoạt động diễn ra cùng một lúc. Ở giai đoạn 2 của cấp học khối lượng chú ý được tăng lên, học sinh có khả năng phân phối chú ý giữa các hành động, biết định hướng chú ý của mình vào nội dung cơ bản của tài liệu.

 1.1.2 Trí nhớ của học sinh tiểu học.

Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần có thể nhớ lại được, nhận lại được.

Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định.

Tính trực quan trong hình ảnh trìu tượng giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5; ở học  sinh  đầu  cấp tiểu học  tính  trực  quan  thể hiện  rất  rõ trong  hình  ảnh trìu tượng. Đến lớp 4, 5 hình ảnh trìu tượng bắt đầu mang tính khái quát.

1.1.3. Tưởng tượng của học sinh.

  1. Khái niệm tưởng tượng.

Tưởng tượng của học sinh là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết.

Ở  học sinh Tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng tái tạo (hình dung lại) và tưởng tượng sáng tạo (tạo ra biểu tượng mới).

  1. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học

Tính có mục đích, có chủ định của tưởng tượng học sinh tiểu học tăng lên  rất nhiều so với trước 6 tuổi. Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng.

Hình ảnh tưởng tượng còn rời rạc, đơn giản chưa ổn định thể hiện rõ ở những học sinh đầu cấp tiểu học. Do những nguyên nhân sau:

+ Học sinh thường dựa vào những chi tiết hấp dẫn, những đặc điểm hấp dẫn, mới lạ bề ngoài của sự vật, hiện tượng để tạo ra hình ảnh mới.

+ Vốn kinh nghiệm của học sinh còn hạn chế vì tưởng tượng phải dựa vào hình ảnh đã biết.

+ Tư duy học sinh đầu cấp tiểu học vẫn là tư duy cụ thể, ở cuối cấp học hình ảnh tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về kết cấu, chi tiết, tính lôgic.

1.1.4. Tư duy của học sinh tiểu học.

  1. Khái niệm tư duy của học sinh tiểu học:

Tư duy của học sinh Tiểu học là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các sự vật hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập ở học sinh.

  1. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học

Do hoạt động học được hình thành ở học sinh Tiểu học qua hai giai đoạn nên tư duy của học sinh cũng được hình thành qua hai giai đoạn.

*Giai đoạn 1: Đặc điểm tư duy học sinh lớp 1, 2, 3.

Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duy trìu tượng bắt đầu được hình thành. Tư duy cụ thể được thể hiện rõ ở học sinh lớp 1, 2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thực hoặc các hình ảnh trực quan.

Tư duy trìu tượng bắt đầu được hình thành bởi vì tri thức các môn học là các tri thức khái quát.

Tuy nhiên tư duy này phải dựa vào tư duy cụ thể.

*Giai đoạn 2: Đặc điểm học sinh tiểu học lớp 4, 5.

Tư duy trìu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.

1.2. Năng lực học tập của học sinh.

1.2.1. Khái niệm.

Năng lực học tập của học sinh là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của học sinh đáp ứng được yêu cầu của hoạt động học đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả.

Năng lực học tập của học sinh gồm:

+ Biết định hướng nhiệm vụ học, phân tích nhiệm vụ học thành các yếu tố, mối liên hệ giữa chúng từ đó lập kế hoạch giải quyết.

+ Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo cơ bản: phẩm chất nhân cách, năng lực quan sát, ghi nhớ, các phẩm chất tư duy: tính độc lập, tính khái quát, linh hoạt…

1.2.2. Đặc điểm năng lực học tập của học sinh tiểu học.

Nhờ thực hiện hoạt động học mà hình thành ở học sinh những năng lực học tập với cách học và hệ thống kỹ năng học tập cơ bản.

Năng lực học tập của học sinh được hình thành qua 3 giai đoạn.

+ Giai đoạn hình thành (tiếp thu cách học)

+ Giai đoạn luyện tập (vận dụng tri thức mới, cách học mới).

+ Giai đoạn vận dụng (vận dụng cách học để giải các bài tập trong vốn sống).

Để đánh giá năng lực học tập của học sinh, ta dựa vào các chỉ số sau:

+ Tốc độ tiến bộ của học sinh trong học tập.

+ Chất lượng học tập biểu hiện ở kết quả học tập.

+ Xu hướng, năng lực, sự kiên trì.

  1. Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học thông qua việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập.

2.1. Hứng thú, hứng thú học tập và ý nghĩa của việc bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh Tiểu học

2.1.1. Khái niệm hứng thú và hứng thú học tập của học sinh Tiểu học

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động.

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú.

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc.

Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú học tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân.

2.1.2. Ý nghĩa của việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học

Hứng thú giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình học tập, nhờ  hứng thú mà quá trình học tập có thể giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực, tìm tòi, sáng tạo và quyết định kết quả học tập của học sinh. Đồng thời, hứng thú học tập có mối quan hệ khăng khít với tri thức của học sinh mà còn tăng thích thú học tập của học sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay.

Hứng thú học tập góp phần hình thành quan hệ nhân cách cho học sinh là cơ sở để học sinh đề ra nhiệm vụ học tập điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh.

Hứng thú học tập là phương tiện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên , là điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú học tập và lao động của học sinh. Việc hình thành hứng thú học tập cho học sinh, đặc biệt là môn Tiếng Việt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên mà còn tăng sự thích thú học tập của học sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Trò chơi học tập và vai trò của trò chơi học tập:

Trò chơi là một loại hình hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người. Ở nhiều gốc độ khác nhau trò chơi được định nghĩa riêng, có thể trò chơi là một hoạt động tự nhiên cần thiết thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người hay là một phương pháp thực hành hiệu nghiệm đối với việc hình thành nhân cách và trí lực của trẻ em trong quá trinh học tập… Theo quan điểm của tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh”,  “trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ”.

Trò chơi học tập được hiểu một cách đơn giản là các trò chơi có nội dung gắn với các hoạt động học tập của học sinh dân tộc nhằm giúp học sinh dân tộc học tập trên lớp được hứng thú, vui vẻ hơn. Nội dung của trò chơi này là sự thi đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó như sự chú ý, sự nhanh trí, sức tưởng tượng, sáng tạo…Ví dụ : như các câu đố, triển lãm…

Theo F.I.Frratkina cho rằng: “Hành động chơi luôn là hành động giả định. Hành động chơi mang tính khái quát, không bị giới hạn bởi cấu tạo của đồ vật”. Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh mẫu giáo và Tiểu học. Đối với học sinh mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bước sang lứa tuổi Tiểu học hoạt động học là chính. Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này là không lớn nhưng hoạt động chủ đạo có sự thay đổi lớn. Vì vậy, giáo viên phải tạo cho các em sân chơi học tập: chơi mà học, học mà chơi.

Học sinh Tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu khả năng ghi nhớ chưa cao. Đối tượng cảm xúc của các em là những sự vật hiện tượng cụ thể, sinh động  mà theo quan điểm dạy học, quá trình dạy học là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế cuộc sống. Học sinh tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một chiều: giáo viên truyền thụ học sinh tiếp nhận làm cho học sinh dễ mệt mỏi chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học. Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của học sinh. Học là một hoạt động trong đó học sinh là chủ thể, tổ chức dạy học sao cho học sinh phải luôn được vận động vừa sức, tiếp thu những kiến thức cần đạt. Trò chơi là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ và là một trong những hình thức đáp ứng yêu cầu đó.

Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thức dạy học thay đổi không khí lớp học, giáo viên vẫn cho học sinh nắm bắt mọi nội dung bài học trong tâm thế thoải mái, tự giác cao. Trò chơi góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là giải pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp. Trò chơi giúp cho học sinh phát triển thêm những điều mới mà các em đã tiếp cận trong sách giáo khoa, luyện tập những kĩ năng thao tác mà các em được học tập. Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống khác nhau buộc mình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu, những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của bản thân. Tổ chức trò chơi khoa học hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể chất một cách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám đông. Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát triển tư duy khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển chuẩn xác. Ngoài ra, sân chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cần thiết: kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh giá…

Việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực góp phần tạo không khí hào hứng thoả tâm sinh lí trẻ, thúc đẩy tính tích cực hoạt động sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng.

2.3.Đặc điểm nội dung của môn Tiếng việt dành cho học sinh Tiểu học kết hợp sử dụng trò chơi trong dạy học  để bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.

Nội dung chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1(các lớp 1,2,3), giai đoạn 2 (lớp 5).

Nội dung chương trình ở giai đoạn 1 có nhiệm vụ hình thành những kĩ năng ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn Tiếng Việt mà trẻ đã có. Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài thực hành nge, nói, đọc, viết, nge, nói. Tri thức Tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút ra từ những bài thực hành, được thấm vào học sinh một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành. Trình độ nắm tri thức của học sinh chỉ dừng lại ở mức các em nhận diện và sử dụng được các đơn vị của Tiếng Việt, các quy tắc trong sử dụng Tiếng Việt lúc đọc, viết, nghe, nói. Phần tri thức có trong nội dung chương trình của các lớp 1,2,3 chỉ có ý nghĩa xác định những tri thức học sinh cần làm quen.

Nội dung chương trình ở giai đoạn 2 nhằm phát triển các kĩ năng đọc,nói, nghe,viết lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, trong đó yêu cầu viết hoàn chỉnh một số văn bản, yêu cầu đọc-hiểu cần được xem trọng.Học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩ năng.Bên cạnh những bài thực hành các em được học các bài về tri thức Tiếng Việt. Những bài học này cũng không phải là lí thuyết đơn thuần , được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát triển trên những ngữ liệu đã đọc,viết,nghe, nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm.

Nội dung chương trình môn Tiếng Việt mỗi năm học 35 tuần gồm 7 phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu,Tập viết, Kể chuyện, Tập làm văn,Học vần.Lứa tuổi Tiểu học là lứa tuổi rất hiếu động  nên viêc sử dụng trò chơi sẽ đem lại hiệu quả học tập ở các em. Hiện nay, vận dụng trò chơi học tập vào dạy học không phải là vấn đề mới mẻ. Các công trình nghiên cứu về môn Tiếng việt, các nguồn tư liệu: các sách thiết kế, sách giáo viên hướng dẫn soạn giáo án… đã đưa ra rất nhiều trò chơi nhưng còn rời rạc từng trò chơi cho từng bài học mà chưa có tính hệ thống. Một số trò chơi đòi hỏi cao về công tác chuẩn bị không phù hợp với đặc điểm cơ sở vật chất trường học. Vì vậy, để sử dụng trò chơi học tập trong dạy học có hiệu quả việc cung cấp các tài liệu tham khảo cũng như tổ chức các chuyên đề, hội thảo mở các lớp tập huấn để không ngừng nâng cao kĩ năng tổ chức cho giáo viên là nhu cầu cấp thiết. Đồng thời, các cấp quản lí, giáo viên cần đầu tư hơn nữa về trang thiết bị dạy học. Thiết kế các giờ dạy Tiếng việt  hợp lí, áp dụng mọi phương pháp tối ưu trong dạy, chơi nhưng học, hoạt động vui chơi và học tập có sự cân đối.Như vậy sẽ tạo hiệu quả cao hơn trong quá trình dạy và học giúp các em tiếp thu một cách nhanh nhất có thể. Thông qua tổ chức trò chơi giúp các em nắm bài và hiểu bài linh hội nội dung bài học  một cách nhanh nhất có thể để từ đó các em có nhu cầu học tập cao hơn ,yêu thích môn học hơn.

  1. Thực trạng sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt để bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.

Để biết được thực tế sử dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng việt cho học sinh Tiểu học hiện nay, tôi đã tiến hành điều tra và qua quan sát giáo viên thông qua băng hình và thực tế ở một số trường Tiểu học thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình và một số tỉnh khác.

Nhìn chung,giáo viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và tác dụng của trò chơi trong dạy học. Với hơn 90% giáo viên đều cho rằng sử dụng trò chơi trong dạy học làm cho học sinh không nhàm chán, giờ học nhẹ nhàng thoải mái,sinh động  nâng cao hiệu quả giờ dạy học trên lớp giúp các em yêu thích bộ môn của mình đang học.

Trong khi đó  một số giáo viên có tuổi vẫn nặng về áp dụng các phương pháp dạy học truyền thống, kĩ năng tổ chức trò chơi còn hạn chế, giáo viên vẫn làm việc nhiều còn học sinh thụ động trong viêc học cung như trong quá trình giao tiếp. Thêm vào đó, do tác động của điều kiện thời gian, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc điểm của học sinh một số em ít chú ý trong quá trình học các em còn thụ động cho nên việc áp dụng phương pháp trò chơi  cho học sinh Tiểu học trong học tập chưa phổ biến và áp dụng chưa có hiệu quả. Tài liệu tham khảo về trò chơi học tập rất nhiều nhưng phần lớn các trò chơi có sự lặp lại, chưa có tính hệ thống cụ thể. Sách giáo viên hướng dẫn soạn bài giảng đưa ra rất ít, đơn điệu, chưa có tính hệ thống các trò chơi chỉ có một số trò chơi đơn giản. Một số trò chơi yêu cầu về sự chuẩn bị rất phức tạp, với đặc điểm hiếu động của học sinh giáo viên rất khó quản lí lớp học. Hơn 2/3 giáo viên đều rất hạn chế trong việc tổ chức trò chơi, khi sử dụng thì các thầy cô đều áp dụng vào phần củng cố bài cuối giờ học, rất ít thầy cô sử dụng trò chơi như là một hình thức dạy học bài mới. Vẫn tồn tại số ít giáo viên luôn có sự rập khuôn từ sách thiết kế bài giảng các trò chơi, lặp đi lặp lại các trò chơi gây ra sự nhàm chán cho học sinh. Bên cạnh đó một số giáo viên có hướng tìm tòi đổi tên gọi hay cách chơi phong phú luôn tạo cảm giác mới lạ cho học sinh. Vấn đề sử dụng trò chơi trong học tập là vấn đề rất cần thiết. Giáo viên nhận thức một cách sâu sắc về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học.

Vì vậy, để sử dụng trò chơi học tập trong dạy học có hiệu quả việc cung cấp các tài liệu tham khảo cũng như tổ chức các chuyên đề, hội thảo mở các lớp tập huấn để không ngừng nâng cao kĩ năng tổ chức cho giáo viên là nhu cầu cấp thiết. Đồng thời, các cấp quản lí, giáo viên cần đầu tư hơn nữa về trang thiết bị dạy học cung cấp trang thiết bị cho các e đầy đủ hơn . Thiết kế các giờ dạy Tiếng việt  hợp lí, áp dụng mọi phương pháp tối ưu trong dạy, chơi nhưng học, hoạt động vui chơi và học tập có sự cân đối với nhau.

Từ thực tế sử dụng như vậy tôi nghiên cứu đề tài nhằm hoàn thiện hệ thống trò chơi: sáng tác một số trò chơi dễ áp dụng với hình thức tổ chức trong mô hình áp dụng cho học sinh dân tộc dễ dàng vào các bài học, sự chuẩn bị đơn giản phù hợp với đặc điểm trường học, giáo viên và đặc điểm tâm lí của học sinh đem lại hiệu quả cao.

Chương 2: Xây dựng hệ thống trò chơi học tập nhằm bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học và một số giáo án thực nghiệm.

1.Một số nguyên tắc  và lưu ý khi xây dựng trò chơi học tập

1.1.Nguyên tắc xây dựng trò chơi học tập

     Khi xây dựng trò chơi học tập cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

-Nguyên tắc 1: Trò chơi đảm bảo tính giáo dục

-Nguyên tắc 2: Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.

-Nguyên tắc 3: Trò chơi đảm bảo tính vừa sức.

-Nguyên tắc 4: Trò chơi đảm bảo tính khả thi.

– Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính hiệu quả.

– Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính khoa học và sư phạm.

1.2. Một số điểm cần lưu ý khi xây dựng trò chơi học tập

Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp có thể vận dụng để dạy học ở Tiểu học.

Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý một số điểm sau:

– Không lạm dụng hình thức trò chơi trong tiết học.

– Trò chơi phải hấp dẫn, thu hút và nhiều (tất cả) HS tham gia.

– Lựa chọn hoặc tự thiết kế trò chơi đảm bảo những yêu cầu:

+ Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình.

+ Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động.

+ Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện. Cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác.

+ Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ

+ Chọn quản lí  trò chơi có năng lực phù hợp với yêu cầu của trò chơi.

+ Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học sinh hứng thú học tập vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách có hiệu quả.

2.Xây dựng một số trò chơi học tập trong môn Tiếng việt để bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh

2.1. Hoàn chỉnh bài thơ có vần giống nhau

*Mục đích

– Rèn kỹ năng tìm đúng âm đầu ghép với vần, thanh cho trước để tạo thành tiếng còn thiếu ở từng câu thơ.

– Tập khôi phục lại các bài thơ vui có vần giống nhau.

* Chuẩn bị

– Sưu tầm các bài thơ có các tiếng cuối mỗi câu đều mang vần giống nhau; chép bài thơ đó lên bảng theo thư tự từng câu (1, 2, 3,…) nhưng để trống các âm đầu của tiếng cuối câu thơ,

– Chuẩn bị giấy, bút để làm bài.

*Cách tiến hành

– Cả nhóm (tuỳ số người tham gia thi) ngồi trước bảng ghi bài thơ có các chỗ trống; sẵn sàng giấy bút để làm bài.

– Khi giáo viên hô “bắt đầu”, tất cả cùng ghi số thứ tự của câu thơ và chữ ghi tiếng đã điền âm đầu.

– Sau 10 (hoặc 15 phút, tuỳ giáo viên quy định), tất cả dừng bút. Từng người lần lượt đọc bài thơ đã khôi phục lại đầy đủ các tiếng thiếu âm đầu cho cả nhóm nghe. Giáo viên cùng các bạn tính điểm: Cứ mỗi tiếng khôi phục đúng, được 1 điểm. (Ở bài thơ trên, đúng toàn bộ 19 tiếng, được 19 điểm).

– Căn cứ vào số điểm đạt được của từng người, có thể xếp hạng Nhất, Nhì, Ba, hoặc tặng danh hiệu “Người khôi phục bài thơ giỏi nhất”.

 

2.2. Thi đọc nhanh và đọc đúng câu có âm đầu, vần, thanh dễ lẫn

*Mục đích

– Rèn kỹ năng phát âm tiếng Việt, khắc phục lỗi phát âm lẫn lộn âm đầu (phụ âm đầu), vần, thanh  do ảnh hưởng cách phát âm địa phương

– Góp phần trau dồi kĩ năng viết đúng chính tả tiếng Việt.

*Chuẩn bị

Mỗi em có thể tự nghĩ ra hoặc sâu tầm một số câu thơ, câu văn cõ những cặp âm đầu, vần, thanh dễ đọc – viết lẫn lộn (do đặc điểm của cách phát âm ở địa phương) rồi ghi vào mảnh giấy làm “đề bài” thi đọc trong nhóm.

*Cách tiến hành

– Đưa ra từng “đề bài” để lần lượt từng người đọc to trước các bạn. Nhóm cử ra một người theo dõi và đánh giá, hoặc cả nhóm cùng nghe và thống nhất đánh giá kết quả đọc của bạn theo tiêu chuẩn: Đọc nhanh, phát âm đúng (có thể cho điểm theo thang điểm 10 hoặc xếp theo ba loại A, B, C).

– Khi đọc xong tất cả “đề bài”, tính tổng số điểm của từng người (hoặc thốn kê từng loại A, B, C) để chọn ra các bạn đạt giải Nhất, nhì, ba. Cả nhóm có thể bình chọn để tuyên dương bạn nào sưu tầm (hoặc tự nghĩ ra) được nhiều câu hay, có nhiều tiếng mang cặp âm đầu, vần, thanh dễ lẫn.

 

2.3. Tìm nhanh các từ trái nghĩa

* Mục đích

Luyện kỹ năng tìm nhanh các cặp từ trái nghĩa trong tiếng Việt; củng cố kiến thức từ ngữ đã học từ lớp 2 đến lớp 5.

* Chuẩn bị

– Kẻ các cột chữ ghi từ trên giấy theo từng cặp (A – B) như sau:

 

(1)
A B
To ngắn
Béo chậm
Cao nhỏ
Dài gầy
Nhanh thấp

 

 

(2)
A B
ồn ào lười biếng
vui vẻ chậm chạp
chăm chỉ đau khổ
nhanh nhẹn im lặng
hạnh phúc buồn bã

 

– Chuẩn bị bút để thực hiện yêu cầu bài tập. Có thể mời một bạn làm trọng tài để đánh giá kết quả và cho điểm (nối đúng mỗi cặp từ trái nghĩa, được 1 điểm)

* Cách tiến hành

– Đọc những từ ở cột A và cột B rồi dùng bút nối những cặp từ trái nghĩa ở cột 2 cột với nhau trong khoảng thời gian nhanh nhất.

– Đánh giá kết quả để xác định số điểm của từng người. Ai nhiều điểm nhất là người thắng cuộc; hai người có số điểm banừg nhau thì phần thắng thuộc về người thực hiện nhanh hơn.

* Giải đáp

Nối các cặp từ trái nghĩa như sau là đúng:

(1) to – nhỏ, béo – gày, cao – thấp, dài – ngắn, nhanh – chậm

(2) ồn ào – im lặng, vui vẻ – buồn bã, chăm chỉ – lười biếng, nhanh nhẹn – chậm chạp, hạnh phúc – đau khổ.

2.4. Thi học giỏi, thuộc nhanh

* Mục đích

– Rèn kĩ năng đọc nhanh và thuộc các bài thơ đã học trong sách giáo khoa Tiếng Việt  (từ lớp 1 đến lớp 5)

– Luyện tác phong khẩn trương, sự khéo léo linh hoạt trong việc sắp xếp các băng giấy ghi đúng nội dung của bài thơ.

* Chuẩn bị

– Làm các bộ băng giấy (hoặc bìa cứng) ghi đầu bài và từng dòng thơ trong bài học thuộc lòng (theo sách giáo khoa Tiếng Việt đã học); bảo đảm mỗi người tham gia cuộc thi có một bộ băng giấy.

    Chú ý: Các băng giấy có kích thước bằng nhau hay khác nhau tuỳ thuộc thể thơ của bài (thơ 4 tiếng, thơ 5 tiếng, thơ lục bát…); chữ viết trên băng giấy theo kiểu chữ in thường hoặc viết thường, trình bày rõ ràng, đẹp mắt. Nếu có điều kiện, có thể photocopy phóng to gấp đôi hay gấp rưỡi bài thơ in trong sách giáo khoa, sau đó cắt thành các băng nhỏ (mỗi băng 1 dòng thơ).

– Giáo viên làm trọng tài để điều khiển và đánh giá cuộc thi.

* Cách tiến hành

– Giáo viên đặt trước mỗi người tham gia thi một bộ băng giấy đã chuẩn bị (cần xáo trộn thứ tự các băng giấy và úp mặt có chữ xuống bàn; các vị trí đặt băng nên cách xa nhau để mọi người không bị ảnh hưởng lẫn nhau)

– Giáo viên nêu yêu cầu (luật chơi):

+ Không lật băng trước khi có lệnh

+ Không nhìn bài của bạn cùng chơi

+ Nghe lệnh “bắt đầu”, tất cả cùng lật băng, đọc và xếp lại đúng thứ tự các câu thơ trong bài; cần đặt (trình bày) các băng ngay ngắn, đúng hình thức trình bày thể thơ như trong sách giáo khoa.

Giáo viên hô lệnh “bắt đầu”, mọi người cùng thực hiện yêu cầu đã nêu. Ai xếp đúng, đủ, đẹp và nhanh nhất là người thắng cuộc (Đọc giỏi, thuộc nhanh) nếu có nhiều người cùng xếp đúng bài thơ với thời gian bằng nhau, giáo viên có thể xét thêm và cách trình bày đẹp, cách chơi đúng luật… để chọn người giỏi nhất, hoặc xếp 2 – 3… người đồng giải Nhất.

C:PHẦN KẾT LUẬN

Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. M.Mgorki từng nói: “ Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. Vì vậy bồi dưỡng hứng thú học tập rất quan trọng. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị  mất đi.

“Học mà chơi- chơi mà học” là một phương châm được đề cao trong hoạt động dạy học do có tác dụng khơi dậy nhiều hứng thú cho cả giáo viên và học sinh đồng thời tạo nhiều ấn tượng sâu sắc về bài học, giúp việc học nhẹ nhàng mà hiệu quả.Trò chơi học tập cho học sinh Tiểu học là một trong những phương tiện giáo dục trí tuệ cho học sinh , nó kích thích sự hứng thú học tập nhận thức, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh. Tiểu luận đã đưa ra mục đích, sự chuẩn bị, cách thức tiến hành 5 hệ thống trò chơi chính, dẫn chứng minh họa một số trò chơi biến thể cùng với cách thức sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất để bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.Tôi cũng có một số trò chơi nhằm cung cấp cho các em sự linh hoạt sáng tạo trong học tập cũng như vận dụng vào thực tiễn học mà chơi, chơi mà học của các em và thấy được vai trò của trò chơi trong dạy học  hiện nay ở trường Tiểu học .Phương pháp trò chơi đang được áp dụng rất rộng rãi trong các trường  học được các em tiếp thu một cách tích cực. Nó đã hợp lí về mục đích sử dụng, hình thức tổ chức, thời gian tổ chức. Mỗi bài học có rất nhiều trò chơi để áp dụng vào những bài học khác nhau giúp các em thích thú hơn. Bên cạnh những thành công đạt được tiểu luận này còn một số hạn chế nhất định, kính mong  cô và các bạn đóng góp ý kiến giúp tôi có thể khắc phục những hạn chế hoàn thành tốt bài tiểu luận này .

Tôi xin chân thành cảm ơn !

D:PHẦN TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Lê Phương Nga,Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học,NXB Đại học Huế,2012.

  1. Bùi Văn Duệ, Tâm lý học tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994.
  2. Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức, 150 trò chơi thiếu nhi, NXB Giáo dục.
  3. Hà Nhật Thăng, Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh, NXB Giáo dục.
  4. Vũ Xuân Đỉnh, Học mà vui vui mà học, NXB ĐHSP.
  5. Sở GD&ĐT TP.Hồ Chí Minh, (1986), Tâm lí trò chơi trẻ em.

7. TS.Vũ Thị Lan(2010), “Xây dựng trò chơi học tập Tiếng việt dựa theo tích truyện dân gian”, Tạp chí Giáo dục Tiểu học, NXB GDVN